Home / Tài liệu ôn thi / Tài liệu môn văn học / THƠ CA TỪ CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945 ĐẾN HẾT THẾ KỶ XX

THƠ CA TỪ CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945 ĐẾN HẾT THẾ KỶ XX

Thơ ca Việt Nam từ tháng 8/1945 đến hết thế kỉ XX có những tác phẩm sau mà học sinh lớp 12 cần khám phá và thể nghiệm:

Thơ kháng chiến chống Pháp: Tây Tiến, Việt Bắc, đọc thêm Bên kia sông Đuống, Đất nước ( Nguyễn Đình Thi), Dọn về làng

Thơ giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội: Tiếng hát con tàu

Thơ chống Mỹ cứu nước: Sóng , Đất Nước ( trích Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

Thơ sau 1975: Đàn ghita của Lorca

Nhận diện những văn bản trên, ta thấy nổi bật những nét thi pháp chung là:

Chủ đề và cảm hứng bao trùm tác phẩm: là quê hương, đất nước, là những con người tiêu biểu cho nhân dân, dân tộc anh hùng trong thời đại đầy thách thức của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài gần nửa thế kỉ.Ở đó, nổi bật là hai vùng Tây Bắc – Việt Bắc, hai cái nôi kì diệu của cách mạng và kháng chiến ( Tây Tiến, Tiếng hát con tàu, Việt Bắc), là mảnh đất Việt Nam rộng dài về không gian, sâu xa về thời gian ( Đất nước – Nguyễn Đình Thi, Đât Nước – trích Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm)…Sống và chiến đấu trên những xóm làng quê hương, miền núi cũng như miền xuôi là những anh bộ đội (Tây Tiến, Bên kia sông Đuống,..), những đoàn quân, những dân công náo nức ra trận (Việt Bắc),…Có thể nói, đât nước và nhân dân anh hùng vừa là đề tài, vừa là chủ đề đồng thời cũng là hình ảnh, hình tượng nổi bật trong tất cả các bài thơ ở lớp 12. Từ đó, cảm hững bao trùm, cái tôi tác giả tất yếu là những rung động sâu sắc về tình yêu quê hương, đất nước, niềm kính yêu, tự hào về dân tộc Việt Nam anh hùng,…Mạch cảm hứng này như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trùm thơ, như dòng máu thắm chảy trong mỗi câu, đoạn và mỗi bài thơ, lay động mỗi trái tim người đọc,…

Thi pháp nổi bật là khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Thể thơ, ngôn ngữ, những biện pháp tu từ:

Thể thơ: Tuy có đôi bài kế thừa âm điệu của thơ mới ( Tây Tiến ) hay dùng thể lục bát (Việt Bắc), ngũ ngôn (Sóng) nhưng nhìn chung chùm thơ được học đều được viết theo âm điệu, cấu tứ của thơ tự do, số âm tiết trong mỗi câu, số câu trong mỗi bài rất phóng khoáng, linh hoạt. Điều đó tạo ra bức tranh thơ nhiều nét sinh động, thể hiện trung thực những cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình và cái tôi thi sĩ cũng rất sinh động, phong phú.

Ngôn ngữ và các biện pháp tu từ:

Nằm trong sự phát triển chung của văn học và tiếng nói dân tộc giai đoạn cách mạng hiện đại , ngôn ngữ của các bài thơ được học gần gũi với cuộc sống thường nhật, nhất là tiếng nói của người chiến sĩ, của những thanh niên, các em thiếu niên và những bà mẹ…trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm cam go, ác liệt. Do đó, có rất ít từ ngữ cổ khó hiểu, hầu như không có điển cố. Trái lại, trong thơ xuất hiện nhiều chất liệu dân gian như tục ngữ, thành ngữ, ca dao,…đậm đà bản sắc dân tộc

Điều đặc biệt cần lưu ý về nghệ thuật ngôn từ là các nhà thơ đã sáng tạo các biện pháp tu từ khá độc đáo. Nổi bật là phép nhân hóa khẩu sung của Quang Dũng trong Tây Tiến , con sóng của Xuân Quỳnh,…Nhờ đó, ngôn ngữ trong bài thơ vốn giản dị nhưng không giản đơn, trái lại rất trong sáng, trau chuốt, có tính thẩm mĩ cao.

Có thể nói, những dấu hiệu nghệ thuật của thơ ca truyền thống như trong thơ có họa, trong thơ có nhạc và những cách tân ngôn ngữ của thơ ca hiện đại đều xuất hiện ở hầu hết các văn bản được học. Vấn đề là khi khám phá và thể nghiệm bài thơ, chúng ta có đủ năng lực – cách nhìn, cách cảm – trí lực – vốn hiểu biết tiếng Việt để phát triển rồi giải mã, đồng sáng tạo với các nhà thơ hay không.

Phong cách tác giả: Như chúng ta đã biết, thơ ca Việt Nam hiện đại xuất hiện nhiều phong cách độc đáo. Sáu bài thơ được học của sáu bài thơ tiêu biểu cho giai đoạn thơ ca cuối thế kỉ XX, đều mang những diện mạo, những phong cách riêng không ai giống ai. Từ ba nhà thơ lớp trước như Quang Dũng, Tố Hữu, Chế Lan Viên đến ba nhà thơ lớp sau như Xuân Quỳnh, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo mỗi người đều in đậm một tâm hồn, tài hoa riêng của mình trong mỗi văn bản. Điều này đã được chỉ rõ ở mục Tiểu dẫn trước mỗi tác phẩm. Đây cũng là một vầng sáng, một đặc trưng thi pháp soi rọi từ dòng mở đầu đến dòng cuối bài thơ.

Khi khám phá và thể nghiệm văn bản, nếu biết thổi bừng vầng sáng này – nghĩa là sử dụng phong cách thơ của mỗi thi sĩ – chúng ta sẽ nhìn rõ hơn những ánh sáng lung linh, huyền ảo của bút pháp, của từ ngữ,câu thơ, chia sẻ dễ dàng với tâm tư, tình cảm của nhà thơ và vận dụng một cách sát hợp giá trị của bài thơ với bài học nhân sinh bản thân.

Comments

comments

About kythiquocgia

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *