Home / Tài liệu ôn thi / Tài liệu môn văn học / So sánh “cái tôi” Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường

So sánh “cái tôi” Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường

So sánh “cái tôi” Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường

( trong hai tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông” – Hoàng Phủ Ngọc Tường và “Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân)

Thể loại:

Khái niệm:

Tùy bút: là một thể thuộc loại hình kí, gần với bút kí và kí sự nổi bật qua việc ghi chép con người, sự kiện cụ thể có thực, tác giả bộc lộ cảm xúc, suy tư, nhận thức, đánh giá.

Kí:

+ Là một loại hình văn học trung gian nằm giữa báo chí và văn học với nhiều thể: bút kí, hồi kí, du kí

+ Nguyên tắc viết kí: Tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không hư cấu, nhà văn viết kí luôn đảm bảo tính xác thực của đời sống được phản ánh trong tác phẩm.

Những điểm chung cơ bản của bút kí và tùy bút:

Tính chân thực: Người viết quan tâm và tôn trọng những sự kiện lịch sử và xã hội, những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra trong đời sống xã hội, miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học

Những lien tưởng, tưởng tượng bất ngờ, tài hoa của tác giả khi phản ánh sự vật cuộc sống

Tính chủ quan, chất trữ tình sâu đạm của cái “tôi” nhà văn

Tiếp cận tác phẩm:

Đối tượng được phản ánh:

Sông Đà

Con sông của tự nhiên:

– bắt nguồn từ huyện Cảnh Đông – Vân Nam – Trung Quốc

– Tên gọi ban đầu là Li Tiên

– Nhập quốc tịch Việt Nam đến ngã ba Trung Hà thì chan hòa vào sông Hồng

– Chiều dài dòng sông: 500 cây số lượn rồng rắn

– Toàn thân: 883.000 thước mét

Con sông của văn hóa: Chảy qua miền đất Tây Bắc. Nguyễn Tuân đã khai sinh một dòng sông nghệ thuật đem đến cho nó hai nét tính cách tưởng chừng như đối lập : hung bạo và trữ tình

Sông Hương

– Chỉ thuộc về thành phố Huế

– Khảo cứu con sông tự nhiên với một thủy trình dài từ rừng Trường Sơn đến thành phố Huế

Được nhân cách hóa như con người với số phận, có tâm hồn, có hành động cụ thể dưới những điểm nhìn khác biệt. Có khi sông Hương là cô gái mang trong mình tình yêu thiết tha với Huế, có khi là người mẹ sản sinh cho Huế những giá trị văn hóa truyền thống cùng âm nhạc, thi ca, có khi là một chứng nhân, chủ nhân của những thời kì lịch sử oai hùng, hiển hách

Cái tôi của người nghệ sĩ – cội nguồn sức hấp dẫn của tác phẩm

Nhận xét chung:

ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển cao. Ông viết văn trước hết là khẳng định cá tính độc đáo của mình “Không giống ai, không cho ai bắt chước mình”. Nguyễn Tuân tìm đến thể tùy bút như một cái duyên tất yếu bởi chỉ có thể loại này mới có thể đáp ứng được cá tính “ngông”trên trang viết của ông

Ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, cái tôi cũng hết mực tài hoa, uyên bác. Ông tìm đến với thể kí để bộc lộ năng lực khảo cứu của một nhà khoa học, cốt cách tài hoa của một người nghệ sĩ.

Cái tôi của người nghệ sĩ:

Cái tôi của Nguyễn Tuân:

Tài hoa, uyên bác:

Tài hoa:

Tiếp cận con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ

Nguyễn Tuân là con người suốt đời đi tìm cái đẹp. Trong tác phẩm của ông, nhân vật được phân loại theo tiêu chí của cái đẹp. Họ là người biết trân trọng yêu mến cái đẹp hay là kẻ đục mài chà đạp lên cái đẹp? Với quan niệm đó, Nguyễn Tuân cố gắng tìm kiếm, ngợi ca vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của con người, dù họ là ai, thuộc tầng lớp nào, làm nghề gì đi chăng nữa, khi họ đạt đến trình độ điêu luyện trong công việc của mình là lúc vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ thăng hoa, tỏa sáng.

Ông đò ở Lai Châu trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” không được khắc họa thành nhân vật số phận như trong tác phẩm tự sự. qua cái nhìn của Nguyễn Tuân, ông đò trở thành một nghệ sĩ trong nghệ thuật chèo đò vượt thác. Mấy chục năm cầm chèo đã tôi luyện cho ông một bản lĩnh vững vàng, một trình độ lái điêu luyện, cưỡi gió, đạp sóng. Nguyễn Tuân chọn một khoảnh khắc trên sông nước để tôn vinh vẻ đẹp tài hoa phi thường của con người lao động trong thời kì xây dựng đất nước. Sau chiến thắng với Đà giang, ông đò không bận tâm về chiến công mà say sưa cùng các bạn đò nướng ống cơm lam bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh. Có thể nói, ông lái đò chính là chất vàng mười mà Nguyễn Tuân đã bỏ bao công sức để tìm kiếm ở mảnh đất Tây Bắc xa xôi.

Tiếp cận ở phương diện văn hóa thẩm mĩ:

Thẩm mĩ: từ con sông Đà của tự nhiên đến con sông Đà nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Tuân có sự khác biệt trong cách cảm và miêu tả. Vẻ đẹp của Đà giang qua ngòi bút của Nguyễn Tuân là cái đẹp đập mạnh vào giác quan của con người. Những dòng nước cuộn xiết, Nguyễn Tuân lien tưởng đến một con thủy quái khổng lồ có tâm địa đen tối với những vòng vây sẵn sang ăn tươi nuốt sống con người. Khi dòng nước êm đềm trôi, ngôn ngữ tả con quái thú biến mất, một thiếu nữ Tây Bắc duyên dáng, tình tứ hiện ra, một cố nhân lâu ngày gặp lại mừng vui phấn khởi vô ngần.

Văn hóa: Màu nước sông Đà đánh thức nơi Nguyễn Tuân ý thức về niềm tự hào dân tộc. Ông phát hiện  ra rằng nước sông Đà chưa bao giờ là màu đen như Pháp miêu tả. Nước sông Đà là màu xanh ngọc bích khi đất trời vào xuân, màu đỏ lừ lừ khi đất trời sang thu. Màu nắng trên sông Đà cũng ngẩn ngơ thoáng hoài cổ về những câu thơ Đường thi thuở nào của Lí Bạch: “Yên hoa tam nguyện há dương châu”.

Uyên bác: kiến thức sâu rộng thuộc nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau: lịch sử, địa lý, quân sự, thể thao, võ thuật, thi ca

Vẻ đẹp của một Nguyễn Tuân uyên bác quyện với vẻ đẹp của một Nguyễn Tuân lãng mạn, nghệ sĩ khi đặt chân đến Tây Bắc.

Yêu thiết tha vẻ đẹp của thiên nhiên, quê hương, đất nước:

Có thể nói không ngoa rằng Nguyễn Tuân là người “Mắc chứng bênh xê dịch”. Trong tiểu sử của ông từng bị bắt về tội xê dịch qua biên giới không có giấy phép. Trong đời sống, Nguyễn Tuân quan niệm “đời cho được đi là cứu cánh’, ‘đi để thay đổi thực đơn cho sắc hoa”. Có lúc Nguyễn Tuân cực đoan cho rằng “đi để mà đi chứ không phải đi để mà đến. đi là để lăn cái vỏ mình trên trái đất”. Tuy nhiên trên mỗi bước đường xê dịch trước hay sau 1945, bậc xu tử họ Nguyễn đã nhanh chóng ghi lại những cảnh đẹp của quê hương đất nước với tất cả niềm tự hào.

Với vùng đất Tây Bắc vào những năm 60 của thế kỉ XX với núi cao thác dữ, với những người dân lao động đang xây dựng đất nước đã lôi cuốn ngòi bút Nguyễn Tuân. Bởi vậy, tâm thế của nhà văn khi đến vùng đất này là “đi tìm vàng quanh sông Đà” – thứ vàng của thiên nhiên và đặc biệt là chất vàng mười mang sẵn trong tâm hồn con người nơi đây. Qua những trang tùy bút của tập tùy bút “Sông Đà”  nói chung và “Người lái đò sông Đà” nói riêng, mảnh đất Tây Bắc hiện lên lặng lờ mà không u tịch bởi sự xuất hiện của những sự sống tươi non, trong treo, nguyên sơ “ Cỏ gianh đồi núi đan xen những ngọn bút”, “Một nương ngô mới nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, hoang dại mà không hoang vu bởi sự xuất hiện của con người.

Cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

Cái tôi lịch lãm, uyên bác với kiến thức sâu rộng về địa lý, lịch sử, văn hóa, thi ca gắn liền với vùng đất cố đô.

Đó là khi nhà văn ghi chép tỉ mỉ, chính xác về sông Hương bám sát thủy trình của nó từ trong rừng Trường Sơn xuống trung du, đồng bằng rồi vào thành phố Huế.

Đó là khi nhà văn khảo cứu về lịch sử của sông Hương từ thời vua Hùng đến thế kì XV, XVIII,…

Đó là khi Hoàng Phủ Ngọc Tường khảo cứu những tác phẩm thơ ca viết về sông Hương ( Cao Bá Quát, Tản Đà, Tố Hữu,…) để khẳng định sông Hương “không bao giờ lặp lại mình”.

Các kiến thức tuy thuộc các lĩnh vực khác nhau nhưng không hoàn toàn độc lập mà hòa quyện hỗ trợ nhau tạo thành một điểm tựa vững chắc cho ngòi bút của nhà văn khi miêu tả sông Hương.

Cái tôi tài hoa, đa tình:

Hoàng Phủ Ngọc Tường đến với sông Hương với tâm thế của một nghệ sĩ lãng mạn giàu rung động, đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” . Ông muốn xác lập mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa cái tên của dòng sông với cách nhìn, cách nghĩ của con người về nó. Và câu trả lời mà ông nhận được chính là “Con người đã đặt tên cho dòng sông như nhà thơ chọn bút hiệu cho mình, gửi gắm vào đó ước vọng muốn đem cái đẹp của thơ để xây đắp văn hóa, lịch sử”.

Hoàng Phủ Ngọc Tường đến với sông Hương với tâm thế của một chàng trai đa tình chìm đắm trong một cuộc tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê. Trong suốt hành trình ấy, vẻ đẹp của Hương giang hiên lên với dáng hình và tâm hồn của một cô gái từ miền sơn cước rừng già xuống trung du châu thổ xuôi về thành phố Huế để gặp người tình mong đợi.

Sông Hương mang tính cách và tâm hồn của phái đẹp. Trong rừng già, sông Hương là cô gái Digan phóng khoáng man dại. Rừng già hun đúc cho nó một bản lĩnh man dại, một tâm hồn tự do và trong sáng. Ra khỏi rừng già, sông Hương nhanh chóng mang “vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ”, trở thành “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”. Vào thành phố Huế, sông Hương trở thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Khi rời Huế, sông Hương như cô gái lẳng lơ, kín đáo trong tình yêu.

Những đường nét của sông Hương qua cảm nhận của chàng trai đa tình như Hoàng Phủ Ngọc Tường thật mềm mại và dịu dàng, thiên tính nữ.

Cái tôi nặng lòng với xứ sở trong mối tình sâu nặng với Huế

 Hoàng Phủ Ngọc Tường đã biến thành người bạn tri kỉ của dòng sông để tìm hiểu về cội nguồn, để truy ngược về quá khứ, để khám phá những điều sâu thẳm. Nói như nhà văn Tô Hoài “Hoàng Phủ Ngọc Tường trằm cả tâm hồn trong khuôn mặt cuộc đời cùng với đất trời sông nước của Huế”.

Bên cạnh sự nặng lòng, Hoàng Phủ Ngọc Tường không giấu diếm nỗi tự hào vui mừng khi viết về sông Hương. Những trang viết của ông là món quà tinh thần mà Hoàng Phủ Ngọc Tường dành tặng vùng đất cố đô.

Cái tôi suy tư, triết lí:

Hoàng Phủ Ngọc Tường còn tiếp cận sông Hương từ phương diện triết học. Nó không chỉ là cảnh quan thiên nhiên, là một phần của văn hóa phi vật thể, là tấm lòng của người dân Châu Hóa mãi chung tình với quê hương xứ sở. Sông Hương qua cái nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường là biểu tượng cho sự biến dịch của tự nhiên, cho lẽ vô thường

Comments

comments

About kythiquocgia

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *