Home / Tài liệu ôn thi / Tài liệu môn văn học / NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN

Đặc điểm thi pháp:

Tác giả: Nguyễn Tuân

Là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo. Mỗi trang viết của ông đều toát ra vẻ đẹp của nhà văn tài hoa, uyên bác, phóng túng, đầy sáng tạo,…Đặc biệt, ông có tình yêu thiên nhiên Tổ quốc say đắm, đam mê.Trước cách mạng tháng 8 – 1945, đề tài chủ yếu trong văn Nguyễn Tuân tập trung ba nhóm: Chủ nghĩa xê dịch, đời sống trụy lạc và vẻ đẹp vang bóng một thời. Giờ đây, đề tài mở rộng. Nhà văn viết về cuộc sống mới, con người mới trong lao động và chiến đấu. Khi ông càng gắn bó với hiện thực cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, trong những ngày hòa bình mới lập lại bao nhiêu thì văn ông càng đa dạng, phong phú, uyên bác, tài hoa, phóng túng,..bấy nhiêu.

Từ 1958 – 1960, Nguyễn Tuân nhiều lần đi thực tế Tây Bắc. Ông vô cùng yêu quý vùng thiên nhiên kì thú đang hồi sinh sau kháng chiến chống Pháp. Ở đây, nhà văn đã tìm hiểu, khám phá được nhiều nét đẹp của con người và cảnh sắc Tây Bắc mà ông gọi là “thứ vàng mười đã qua thử lửa” của tâm hồn Tây Bắc. Sau chuyến đi Tây Bắc gần hai năm, nhà văn đã viết tập tùy bút “Sông Đà”, gồm 18 bài kí nổi tiếng, trong đó “Người lái đò sông Đà” là đặc sắc nhất.

Tác phẩm:

Đề tài, chủ đề: Bài kí tập trung khắc họa hình tượng con người – ở đây là ông lái đò trên sông Đà tài hoa và cảnh sắc núi rừng, sông nước miền Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, đáng nên thơ, nên nhạc. Cả hai hòa quyện với nhau đem lại cho người đọc ấn tượng về “thứ vàng mười đã qua thử lửa”.

Nghệ thuật:

Sử dụng thể tùy bút, cái tôi nhà văn được giãi bày thật phóng túng, suy nghĩ và cảm xúc rất hài hòa, đầy sáng tạo. Từ hình ảnh nhân vật, đến cảnh thiên nhiên, từ đoạn dài đến những câu văn, từ ngữ ngắn, nhà văn đã huy động nhiều kiến thức về văn chương, lịch sử, âm nhạc, ngôn ngữ và cả quân sự, thể thao…vô cùng uyên bác, lôi cuốn, hấp dẫn người đọc từ đầu đến cuối.

Trong bút pháp miêu tả và kể chuyện, văn bản xuất hiện những từ tượng hình, tượng thanh, những phép tu từ so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, cường điệu, những câu văn dài, ngắn, co duỗi có nhịp, có thanh điệu, văn xuôi xen đôi câu thơ rất bất ngờ, thú vị. Nhờ đó, đọc văn bản này của Nguyễn Tuân, chúng ta vừa có khoái cảm về tâm hồn, vừa nâng cao rất nhiều về trí tuệ.

Đọc văn cụ Nguyễn, nhiều người cảm thấy khó vào. Nhưng nếu biết huy động tất cả vốn kiến thức văn chương, cuộc sống, phát huy cao độ trí tuệ thông minh, sự nhạy cảm của tâm hồn, sử dụng hài hòa đôi mắt kết hợp trí tưởng tượng, năng lực phán đoán…chúng ta sẽ đến được vẻ đẹp của áng văn, chạm đến “chất vàng mười” trong tâm hồn nhà văn

Gợi ý giải mã:

Nhân vật ông lái đò sông Đà:

Hoàn cảnh sống: Sau một đoạn văn ngắn ( từ mở đầu đoạn trích đến “rút lên cây gậy đánh phèn”), nhà văn giới thiệu nhân vật bằng một câu tóm tắt hoàn cảnh sống của ông lái khá rõ nét “cuộc sống của người lái đò sông Đà quả là một cuộc chiến hằng ngày với thiên nhiên, một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một”. Vậy, kẻ thù của ông hiện diện thế nào, có những binh chủng nào?

Thứ nhất là những hút nước, xoáy tít từ mặt sông đến đáy sông, giống một lòng giếng sâu, nước ằng ặc như vừa rót dầu sôi vào. Nhiều con thuyền đã bị những hút nước ấy hút xuống, thuyền “trồng cây chuối” – bị dựng thẳng đứng, chổng ngược – rồi tan xác ở khuỷu sông dưới

Thứ hai là những thác, ghềnh trên mặt trên. Thác nước hiện hình chẳng khác nào những con quái vật. Lúc nó réo gầm, réo to mãi lên…lúc van xin, lúc khiêu khích giọng gằn chế nhạo. có lúc nó rống lên như một ngàn con trâu mộng chạy hỗn loạn trong rừng cháy.

Thứ ba là đá sông. Trên mặt sông, hiện trước mặt ông đò là một “chân giời đá”. Đủ các hình dáng, đá nổi, đá chìm, hòn to, hòn nhỏ…Mặt hòn đá nào cũng trông dữ dằn, gớm ghiếc…Chúng “bày thạch trận trên sông…dụ con thuyền đối phương đi vào để đánh khuýp, quật vu hồi tiêu diệt tất cả thuyền trưởng và thủy thủ…”. Nhà văn đã đặc tả kẻ thù của người lái đò như thế. Qua lien tưởng, tưởng tượng, kết hợp nghệ thuật so sánh, nhân hóa của nhà văn, thiên nhiên vốn vô cảm bỗng trở nên sống động, có tính cách – đúng là kẻ thù số một của người lái đò. Nhưng ông lái đò vẫn chiến thắng.

Đặc điểm phẩm chất, tính cách: được thể hiện cụ thể trong một đợt leo ghềnh, vượt thác mà Nguyễn Tuân so sánh “như một trận thủy chiến trên mặt trận sông Đà”. Đoạn văn khá dài. Song qua ngòi bút ghi chép, miêu tả, kể chuyện đầy cảm xúc của nhà văn, ta có thể hình dung trận chiến ấy gồm ba chặng, ba đợt phá trùng vi. Đó là cuộc đối đầu không cân sức: sóng nước, đá sông và con thuyền sáu tay chèo do người lái đò chỉ huy.

Trùng vi

Thác nước và đá sông

Ông lái đò

Phẩm chất người lao động

Thạch trận vòng 1

Hò la, vang dậy, ùa vào

Đá trái, thúc gối, đánh giáp lá cà, đòn hiểm, đòn âm,…

Cố nét vết thương, hai chân kẹp chặt cuống lái

Tiếng chỉ huy ngắn gọn, tỉnh táo

Người chiến sĩ dũng cảm, quyết tâm giữ vững trận địa

Người chỉ huy gan dạ, bình tĩnh

Thach trận vòng 2

Đổi chiến thuật: tăng cửa tử để đánh lừa con thuyền

Cửa sinh bố trí lệch qua bờ hữu ngạn

Cưỡi lên thác, cưỡi đến cùng như cưỡi hổ

Nắm lấy bờm của sóng, ghì cương lái, vừa lái vừa rảo bơi chèo, đè sấn, chặt đôi…để mở đường tiến

Người chỉ huy táo bạo, bình tĩnh, chủ động tiến công

Gợi nhớ Võ Tòng đả hổ trong truyện Thủy Hử

Thạch trận vòng 3

Bên phải, bên trái đều luồng chết, cửa tử

Luồng sông ở giữa bọn đá hậu vệ

Câu văn ngắn, hối hả

Cứ phóng thẳng thuyền vào cửa giữa

Thuyền như mũi tên tre tự động lái được, lượn được “Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong…”

Câu văn dồn dập, lên đến cao trào

Người anh hùng, người nghệ sĩ tài hoa thổi hồn vào con thuyền như huyền thoại

Tay lái ông đò ra hoa, văn cụ Nguyễn nở hoa

Kết thúc ba đợt phá trùng vi của ông lái đò. Nguyễn Tuân ghi lại một đoạn vĩ thanh của trận thủy chiến: nhà đò ghé vào hang đá nghỉ ngơi, bình thản. Rồi nhà văn mường tượng trong cuốn phim về sông nước Đà giang “trên thác hiên ngang một người lái đò sông Đà có tự do, vì người lái đò ấy nắm được quy luật tất yếu của dòng nước sông Đà”

Hình ảnh nhân vật giống như một tượng đài.

Đánh giá:

Người lái đò sáng lên vẻ đẹp của người anh hùng tài hoa, trí dũng, một nghệ sĩ trong nghề leo ghềnh, vượt thác, một “chất vàng mười” của Tây Bắc. Hình tượng ấy tiêu biểu cho những con người mới làm chủ cuộc sống những năm đầu miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Viết về nhân vật, nhà văn đã huy động một vốn sống vô cùng phong phú, đa dạng, một bút pháp phóng túng, biến ảo với cách dùng từ sáng tạo, nhiều biện pháp tu từ linh hoạt, nhiều câu văn co duỗi, với âm thanh, nhịp điệu vừa giàu tính họa, vừa giàu tính nhạc…Tất cả như hội tụ đủ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.

Cũng qua hình tượng nhân vật người lái đò, cái tôi trữ tình nhà văn biểu hiện tình yêu, niềm đam mê say đắm trước vẻ đẹp của con người…Tình yêu, niềm đam mê đó thổi vào từng câu chữ ngân lên như một bài ca ca ngợi con người “Tất cả cho con người, tất cả vì con người. Con người! Hai tiếng ấy vang lên kì diệu và hùng tráng siết bao”

Hình ảnh sông Đà: Dưới cái nhìn của nhà khoa học, nhà phóng sự và một nghệ sĩ tài hoa, phóng túng, Nguyễn Tuân đã miêu tả và cảm nhận về con sông Tây Bắc qua hai nét nổi bật: con sông hung bạo và con sông trữ tình.

Con sông hung bạo:

Nét hiểm trở, tính hung bạo của sông Đà thể hiện ba yếu tố: những hút nước xoáy sâu, những ghềnh thác dữ dội và những tảng đá hòn rải rác nổi, chìm trên sông ( thể hiện qua đoạn miêu tả hoàn cảnh sống người lái đò)

Toàn cảnh hiểm trở và hung bạo nói trên của sông Đà đã được nhân dân đúc lại trong câu đồng dao truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh “Núi cao sông hãy còn dài – Năm năm báo oán đời đời đánh ghen”. Có thể nói, với con người, sông Đà như một hung thần, một chàng Thủy Tinh mang thói ghen tuông đời đời kiếp kiếp…

Miêu tả những nét hung bạo ấy của sông Đà, nhà văn vừa dùng nghệ thuật chạm khắc, vừa so sánh lien tưởng từ cảnh thiên nhiên lớn lao đến cuộc sống gần gũi, từ nét tĩnh sang nét động, từ vật vô tri thành vóc dáng người có tâm địa, có lúc ông gọi là thần sông, thần đá. Dường như, như cầm bút, nhà văn đặt tất cả những nhịp đập của trái tim như chính mình đang đối mặt, đang trực tiếp sống những giây phút căng thẳng, hồi hộp nhất giữa dòng sông dữ dội và hung bạo. Đồng thời, ông cũng muốn nhấn mạnh những thử thách ghê gớm của thiên nhiên với con người – những người lái đò, những dân vạn chai hàng ngày phải sống, phải đấu tranh đê chiến thắng, khẳng định sức mạnh và tài năng con người.

Con sông trữ tình: Không chỉ hiểm trở dữ dội, cảnh sông Đà còn rất thơ mộng, hấp dẫn. Tương tụ cách miêu tả nét hiểm trở của sông Đà bằng bút pháp nhân hóa – tính hung bạo, với nét thơ mộng của dòng sông, nhà văn cũng nhân hóa dòng sông bằng cụm từ rất đỗi thân thương “con sông Đà trữ tình”. Miêu tả vẻ đẹp trữ tình của sông Đà, nhà văn đổi cách viết. ông không miêu tả một cách xuôi chiều mà sử dụng những góc nhìn, những vị trí khác nhau để cảm nhận đối tượng của mình.

“Tôi có tạt ngang qua sông Đà … từ máy bay mà nhìn xuống”

“Chuyến ấy đi rừng, đi núi đã lâu…xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng…bờ sông Đà, bãi sông Đà”

“Thuyền tôi trôi trên sông Đà…cảnh ven sông ở đây lặng lờ…Thuyền tôi trên trên “Dải sông Đà bọt nước lênh bênh”

Như vậy, qua ba góc nhìn – từ trên máy bay nhìn xuống, đi bên bờ sông nhìn gần xung quanh, ngồi trên thuyền nhìn xa, vừa nhìn ngẫm nghĩ, hồi tưởng, cảm thụ – nhà văn Nguyễn Tuân đã đưa người đọc đến với chuyến du lịch sinh thái sông Đà vô cùng thú vị. Qua cái nhìn phóng túng thấm đẫm trí tưởng tượng và chan chứa lòng mến yêu cảnh trí hữu tình, chúng ta thấy hiển hiện trước mắt một bức tranh sông Đà khi dịu dàng, duyên dáng như một mĩ nhân, lúc đằm đằm, âm ấm như cố nhân, lại có lúc vời vợi, ẩn hiện như “người tình nhân chưa quen biết”.

Lòng yêu thiên nhiên Tổ quốc và phong cách văn xuôi Nguyễn Tuân – uyên bác, phóng túng và đầy sáng tạo

 

 

Comments

comments

About kythiquocgia

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *