Home / Tài liệu ôn thi / Tài liệu môn văn học / MỊ VÀ NGƯỜI “VỢ NHẶT”- HAI NGƯỜI VỢ THEO KHÔNG

MỊ VÀ NGƯỜI “VỢ NHẶT”- HAI NGƯỜI VỢ THEO KHÔNG

TIÊU ĐỀ: MỊ VÀ NGƯỜI “VỢ NHẶT”- HAI NGƯỜI VỢ THEO KHÔNG

Đề bài: Nêu cảm nhận của anh/chị về hình ảnh Mị chạy theo A Phủ (Vợ chồng A Phủ) và thị theo Tràng về làm vợ (Vợ nhặt).

Bài làm

   Tô Hoài và Kim Lân là hai cây đại thụ lớn trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam mặc dù cả hai chỉ học hết bậc tiểu học. Nếu Tô Hoài nổi tiếng với “Vợ chồng A Phủ” – truyện ngắn mang đậm nét văn hóa Tây Bắc thì Kim Lân thành công với “Vợ nhặt” – tá phẩm phản ánh rõ nét nạn đói vùng đồng bằng Bắc Bộ những năm 45. Tuy viết về hai đề tài, hai khung cảnh, hai thời kì khác nhau nhưng “Vợ chồng A Phủ” và “Vợ nhặt” cùng có cảnh người phụ nữ bỏ theo một người đàn ông: Mị chạy theo A Phủ và thị theo Tràng về làm vợ. Đây là hai chi tiết đặc sắc, tạo cho tôi nhiều liên tưởng so sánh thú vị.

   Trước tiên là hành động của Mị trong “Vợ chồng A Phủ”. Mị vốn là một thiếu nữ xinh đẹp, đảm đang, tràn đầy nhựa sống nhưng phải về làm dâu nhà Pá Tra gán nợ cho cha. Kể từ lúc ấy, Mị như đánh mất chính mình, sống trong yên lặng, câm nín như “con rùa ở xó cửa”. Một cô gái câm lặng chịu đựng quá lâu, chấp nhận chịu đựng như thể đó là việc hiển nhiên, đã đưa ra một quyết định, một hành động đầy bất ngờ: cởi trói, cứu và chạy theo A Phủ. Đằng sau hành động tưởng chừng nông nổi, vội vàng đó là cả một quá trình đấu tranh nội tâm gay gắt. Đêm đông lạnh lẽo ấy cũng như bao đêm khác, Mị thức dậy sưởi lửa. Nhưng đêm này Mị không một mình, trước mắt Mị là A Phủ bị trói đứng và Mị trông thấy A Phủ khóc “một dòng nước lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Nếu trước đây, tiếng sáo gọi bạn tình ngày xuân đánh thức sức sống trong Mị thì giờ đây giọt nước mắt của A Phủ – giọt nước mắt của một người ham sống, khát vọng sống nhưng lại bị đẩy vào đường cùng khiến Mị cảm động sâu sắc, đánh thức nơi trái tim cô bao cảm xúc mãnh liệt. Nó gợi cho Mị nhớ lại nỗi đau của chính bản thân cô khi bị A Sử trói đứng : “Mị cũng phải trói đứng như thế kia” và Mị cũng đã khóc rất nhiều. Từ chỗ thương mình, Mị thương cho A Phủ- người lâm vào cùng cảnh ngộ bất hạnh: “Chỉ nay mai thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Nỗi đau đớn, cảm giác phi lí, bất công đập mạnh vào trái tim Mị, khiến nó hồi sinh, đập lại những nhịp đạp thương yêu chứ không câm nín, vô hồn như trước nữa. Mị một lần nữa hồi sinh, không chỉ là sống lại cảm giác biết yêu thương, cảm thông mà còn nhen nhóm cảm giác căm thù, khinh ghét. Sau bao nhiêu chịu đựng, câm nín, Mị cũng biết nhận ra “Chúng nó thật độc ác”, nhận ra những kẻ vô nhân tính kia không những chôn vùi sự sống, cuộc đời của bản thân mình mà còn cả A Phủ và hàng chục người vô tội khác. Tất cả nhận thức, tất cả cảm xúc bừng lên trong Mị như ngọn lửa mãnh liệt, thúc giục Mị phải hành động, phải thay ông trời cứu giúp người đáng được sống. Từ vô cảm đến đồng cảm và giờ đây là dũng cảm, Mị dứt khoát cởi trói cứu A Phủ, nghẹn giọng thì thào một tiếng: “Đi ngay…”. Hành động của Mị không hề xốc nổi, nông nổi, hành động của Mị càng không phải được dự trù từ trước. Nó xảy đến vô cùng tự nhiên, xảy đến vào giây phút Mị bước qua ranh giới của sự tồn tại để sống lại như một người có trái tim và tâm hồn. Và vì thế, Mị cảm giác được “sợ hãi”, “hốt hoảng”, mị cảm giác được khát vọng sống, ham tự do cuồn cuộn chảy trong toàn bộ cơ thể. Mị vùng chạy theo A Phủ. Mị biết rõ, chạy theo A Phủ chính là tự cứu lấy chính mình, tự đi tìm lại tự do, tuổi trẻ đã một lần đánh mất. Mị đã dũng cảm cởi trói cho A Phủ, Mị còn quả cảm hơn thế vì đã cởi trói cho chính bản thân mình – sợi dây của cường quyền, của các thế lực thần quyền, của hủ tục lạc hậu vây hãm cuộc đời Mị bấy lâu nay. Chạy trốn cùng A Phủ chưa chắc Mị đã được sống ấm no, hạnh phúc, đủ đầy nhưng như thế vẫn là được sống, ở lại với A Sử, với thống lí Pá Tra, chờ đợi Mị chỉ là cái chết hoặc sự tồn tại câm lặng đáng sợ như trước. Và Mị đã lựa chọn đúng, lựa chọn tự mình hành động, không hi vọng hay chờ đợi sự thương cảm từ bất kì ai. Mị từ bị động nay đã chủ động nắm lấy bánh lái của cuộc đời chính mình, đưa con thuyền cuộc đời khỏi nơi giông bão, hướng đến ngày mai tươi sáng hơn. Bằng một loạt ngôn ngữ độc thoại nội tâm sâu lắng, giàu biểu cảm và mang đậm bản sắc của người dân vùng núi Tây Bắc, Tô Hoài đã khắc họa đầy ấn tượng và sinh động suy nghĩ, cảm xúc và hành động của Mị, Từ đó, nhà văn đã mở ra một cánh cửa để bạn đọc dễ dàng phát hiện và khám phá sâu sắc sức sống, niềm khát vọng được sống tự do của những người lao động nghèo Tây Bắc. Niềm khát vọng ấy như một động lực thúc đẩy họ vượt qua mọi rào cản hủ tục lạc hậu để tìm kiếm mục đích và ý nghĩa đích thực của cuộc sống, mà tiêu biểu hơn cả là hành động Mị chạy theo A Phủ.

   Trong văn học Việt Nam, không chỉ có mình Mị chạy theo A Phủ bắt đầu cuộc sống vợ chồng mới, nhà văn Kim Lân cũng khắc họa hình ảnh cô thị theo Tràng về làm vợ trong truyện ngắn nổi tiếng: “Vợ nhặt”. Tôi đã đọc rất nhiều truyện ngắn về làng quê Việt Nam với những người mẹ, người chị đảm đang, dịu dàng, còn thô lỗ suồng sã như Thị thì lần đầu tiên. Thị xuất hiện với vẻ ngoài xấu xí: “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, “gầy sọp”, “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt”, “hau con mắt trũng hoáy”. Thi đã xấu người lại xấu cả nết. Cách nói năng của Mị chua ngoa, chỏn lỏn, cộc cằn, sống sượng, vừa nghe câu hò đùa của người đàn ông xa lạ đã cười tít mắt, lon ton chạy lại “liếc mắt” tình tứ. Thị ngày ngày lang thang đầu đường xó chợ hay “ngồi vêu” ở cửa kho thóc mong nhặt được hạt rơi, hạt vãi. Không chỉ nói năng, đi đứng, cách ăn uống của thị cũng vô cùng thô tục, tham lam: “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”, “ăn xong cầm đôi đũa quyệt ngang miệng”. Dưới ngòi bút của Kim Lân, thị hiện ra thật thảm hại nhưng không hề mang lại cảm giác khó chịu. đáng ghét. Dường như cái xấu xí, trơ trẽn kia không phải bản chất con người thị. Nó chỉ là hệ quả tất yếu của nạn đói, của cuộc sống vật vờ không rõ còn được sống đến bao giờ. Thậm chí, thị còn không có nổi một cái tên tử  tế. Phải chăng cái đói đã cướp đi của thị tất cả, đẩy thị ra ngoài đường, treo trên đầu thị một bản án tử hình lơ lửng. Nhưng cơn đói không khiến thị gục ngã, không cướp đi hi vọng được sống trong thị, cơn đói còn giúp thị hình thành bản năng bấu víu sự sống, cố gắng nắm lấy cơ hội được sống. Chính vì vậy, khi Tràng hỏi đùa: “ có về với tớ thì thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”, thị đồng ý ngay lập tức, không hề dành đến một giây để suy tính đúng sai, phải trái, không dành đến một tích tắc để nhớ đến quan niệm đạo đức, phẩm chất cần có của một người phụ nữ. Tất cả những gì thị có thể nghĩ ra lúc đó chỉ là đi theo Tràng, làm vợ Tràng, thị sẽ được ăn no, được ở trong nhà, được dựa dẫm. Thị như người bộ hành đi giữa sa mạc tìm được ốc đảo, như “chết đuối vớ được cọc”, vội vàng đáp ứng như sợ ràng Tràng sẽ đổi ý. Chính hoàn cảnh khốn cùng, chính nạn đói khủng khiếp và chính bản năng sống mãnh liệt đã đẩy thị đến quyết định dứt khoát, lạ đời ấy. Cơn đói đã đánh bại mọi quan niệm về lễ giáo phong kiến. Khi đói, con người tìm kiếm thức ăn như một thứ bản năng, tìm nơi để dựa vào, để sống sót. Thị cũng vậy. Phần con đã đánh bại phần người. Đối với thị, trong hoàn cảnh khốn cùng này, không gì quan trọng hơn sự sống và lựa chọn đi theo Tràng bất chấp tất cả là lựa chọn hợp lí và khôn ngoan nhất. Kim Lân viết về hành động của Mị bằng một trái tim hết sức đồng cảm, thấu hiểu sâu sắc. Điều đó khiến chi tiết thị theo Tràng về làm vợ trở nên thấm thía, đẫm tình người.

   Hai chi tiết đặc sắc trên gợi cho tôi nhiều liên tưởng so sánh thú vị. A Phủ và Tràng không phải bạch mã hoàng tử, không phải phú hào giàu có nhưng cả hai đều là niềm hi vọng, là người sẽ mở ra một cuộc sống mới trước Mị và thị. Vì thế, Mị và thị đã chạy theo tiếng gọi tha thiết của sự sống chứ không phải chạy theo tiếng gọi của tình yêu. Cả Mị và thị trong giây phút lựa chọn giữu sự sống và cái chết đều đã tự cởi trói cho chính mình. Mị tháo bỏ dây trói, gông cùm của thần quyền, của hủ tục phi lí, bất công, hà khắc, của nỗi sợ hãi, yếu đuối, của sự chấp nhận cuộc sống câm nín bấy lâu nay. Còn thị bất chấp những quan niệm lễ giáo, đạo đức của một người phụ nữ, bất chấp lòng tự trọng của bản thân, bất chấp luôn ước vọng về một đám cưới tử tế. Cuộc gặp gỡ giữa A Phủ và Mị, giữa Tràng và thị là cuộc gặp gỡ định mệnh, gắn kết sự sống, mở ra trang mới cho cuộc đời mỗi người, đều chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn ngủi. Phải chăng, cả hai tác giả muốn gửi gắm rằng: thời gian, không gian đều không quan trọng bằng sự cảm thông, thấu hiểu lẫn nhau – thứ diễn ra chỉ trong khoảnh khắc. Tuy giống nhau trong nhiều chi tiết, hình ảnh, “Vợ chồng A Phủ” và “Vợ nhặt” vẫn mang nét riêng biệt trong phong cách tác giả. Dưới ngòi bút của Tô Hoài, cả một vùng rừng núi thiên nhiên, con người Tây Bắc hiện ra đẹp đẽ, sinh động đến lạ thường, mang đậm bản sắc dân tộc. Kim Lân lại tái hiện cái khủng khiếp của nạn đói năm 45, những cái chết vất vưởng, sự thiếu ăn, sự ảm đạm, trầm mặc và cả sự biến chất của đạo đức con người gây ám ảnh sâu sắc. Kim Lân và Tô Hoài xứng đáng là hai cây đại thụ trong nền văn học Việt Nam.

   Trải qua bao nhiêu năm đi chăng nữa, “Vợ chồng A Phủ” và “Vợ nhặt” vẫn là hai truyện ngắn đặc sắc bậc nhất. Đọc truyện, người trẻ như tôi có cơ hội khám phá thêm vẻ đẹp của rừng núi Tây Bắc, con người Tây Bắc, hiểu thêm về nạn đói đã cướp đi hơn hai triệu sinh mạng những năm 45 và hơn thế là hành động của Mị và thị. Bỏ theo trai luôn là điều cấm kị với một người phụ nữ trong cả xã hội xưa và nay, nhưng hai tác giả đã mang lại cho tôi một cái nhìn khác, cái nhìn nhân văn, sâu sắc và ý nghĩa của hành động này. Từ đó, tôi càng thêm cảm phục tài năng viết truyện của Tô Hoài và Kim Lân.

 

Comments

comments

About kythiquocgia

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *