Home / Tài liệu ôn thi / Tài liệu môn văn học / Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn’ trong bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu

Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn’ trong bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu

Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn’ trong bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu

Đề bài: Từ tình cảm của nhà thơ trong đoạn trích trên, anh/chị có suy nghĩ gì về truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” trong cuộc sống hôm nay?

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh rao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung."

Bài làm

Tố Hữu là nhà thơ lớn, con chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, các chặng đường thơ của ông đều gắn bó với các chặng đường cách mạng dân tộc. Các tác phẩm của Tố Hữu luôn in đậm khuynh hướng trữ tình chính trị và đậm đà tính dân tộc. Và “Việt Bắc” là một trong những bài thơ hay nhất của đời thơ Tố Hữu, đồng thời cũng là đỉnh cao của thơ kháng chiến chống Pháp. Nó được xem như một bản tổng kết bằng thơ cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, anh hùng của dân tộc và lời tri ân sâu nặng về nghĩa tình cách mạng. Đoạn trích “…” là lời của cán bộ kháng chiến về xuôi với người dân Việt Bắc, như sự đáp lời cho câu hỏi đau đáu “Mình về mình có nhớ ta?”. Nếu như đồng bào Việt Bắc nhớ cán bộ kháng chiến thì cán bộ kháng chiến cũng dành trọn tình cảm yêu thương cho những con người nghĩa tình ấy. Một tình cảm tri ân đồng vọng.

Tình cảm mà cán bộ kháng chiến gửi đến đồng bào Việt Bắc được dồn nén và kết tụ lại trong bức tranh tứ bình về hoa và người Việt Bắc:

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh rao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung."

 

Tập thơ Việt Bắc được xem là đạt đến “độ chín” về nghệ thuật của ngòi bút Tố Hữu và bài thơ “Việt Bắc’ chính là linh hồn của tập thơ mà trong đó mười câu (câu 43 đến câu 52) chính là tuyệt bút, là những câu thơ đắt giá nhất.

Hai câu thơ đầu như những lời đưa đẩy và gợi dẫn để tình cảm của nhân vật trữ tình được bộc lộ chân thành nhất. Cũng giống như người ở lại, bắt đầu bằng câu ứng hỏi “Mình về mình có nhớ ta?”, khi cất lên cảm xúc, người ra đi cũng băn khoăn rằng “Ta về mình có nhớ ta?. Nỗi băn khoăn là tâm tư song hành từ cả hai phía, nó đến từ chính tình cảm sâu nặng mà người ra đi và người ở lại dành trọn cho nhau. Thoáng hiện lên bóng hình của ca dao “Thuyền về có nhớ bến chăng?”, tình cảm mà đối phương dành cho mình như thế nào, có đậm đà, có sâu nặng như mình hay không? Và câu hỏi ấy đã tạo cơ hội, tạo nền tảng để những cán bộ kháng chiến được bộc bạch tâm tư, bày tỏ tình cảm. Ra đi, họ mang theo nỗi nhớ “hoa” và “người”. “Hoa” ở đây là tinh túy của núi rừng Việt Bắc, “hoa” ở đây là thiên nhiên núi rừng Việt Bắc còn người ở đây chính là con người Việt Bắc với những phẩm chất tốt đẹp tựa như loài hoa rực rỡ của núi rừng nơi đây. Như vậy, nhớ “hoa cùng người” là nhớ về thiên nhiên và con người Việt Bắc, cả hai mang vẻ đẹp song hành, để lại vấn vương sâu nặng trong lòng người ra đi.

Tám câu thơ còn lại được tổ chức theo lối song hành với bốn cặp câu. Song hành ở đây chính là những câu 6 ( câu lục ) để dành tả cảnh thiên nhiên Việt Bắc và những câu 8 ( câu bát ) là khắc họa hình bóng của con người. Tất cả tạo nên bức tranh tứ bình hài hòa, ấn tượng.

Bức tranh mùa đông đã được khắc họa trong cặp câu đầu tiên. Vẻ đẹp của thiên nhiên mùa đông được thể hiện ở sự hòa sắc rất tuyệt vời. Tác giả đã sử dụng bút pháp chấm phá của thơ Đường, chỉ gợi chứ không tả, để lại khoảng trống để người đọc lấp đầy bằng những liên tưởng, cảm nhận của mình, đã gợi ra vẻ đẹp của bức tranh rừng đông với gam màu chủ đạo – màu xanh. Nhưng là chấm phá nên Tố Hữu không đặc tả sắc xanh ấy là xanh như thế nào. Đó không phải là màu xanh non mỡ màng của nàng xuân mà đó là độ xanh sẫm, xanh của rừng già trong rừng mùa đông, màu xanh ấy trải dài bát ngát. Nó đã khoác lên mình thiên nhiên, rừng núi Việt Bắc vẻ thâm u, trầm mặc khi vào đông. Xanh – gam màu lạnh càng sự lạnh lẽo của rừng già màu đông, nhưng nổi bật trên đó là màu đỏ tươi của hoa chuối, và nếu nhìn kĩ hơn vào bức tranh ấy thì còn có màu vàng rất nhẹ, rất nhạt của nắng trời đông. Màu đỏ tươi của hoa chuối gợi liên tưởng như những ngọn đuốc đang cháy bập bùng hòa cùng những đốm nắng ánh lên từ con dao đi rừng của con người. Tất cả làm bức tranh mùa đông không còn u tịch, lạnh lẽo, buốt giá mà mang vẻ đẹp ấm áp, rực rỡ đến lạ kì. Đến câu thơ tiếp theo, Tố Hữu đã khắc họa con người nơi đây trong cuộc việc đi rừng, trong khung cảnh lao động “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Tư thế của họ nổi bật lên qua từ “Đèo cao”. Địa hình núi rừng Tây Bắc trập trùng, gập ghềnh, hiểm trở như Quang Dũng đã đặc tả “Dốc lên khúc khuỷnh dốc thăm thẳm”, như vậy, công việc lao động thật vất vả, khó nhọc và cũng đầy nguy hiểm. Nhưng tư thế của họ vẫn rất hiên ngang, tư thế làm chủ trên đỉnh đèo. Con người nơi đây với tâm thế khỏe khoắn, mạnh mẽ đã chế ngự được thiên nhiên. Có lẽ, hình ảnh này đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong tâm tư Tố Hữu, nên ở một tác phẩm khác , bài thơ “Lên Tây Bắc” ta lại được bắt gặp bóng dáng những con người mạnh mẽ, kiêu hãnh “Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều/ Bóng dài trên đỉnh núi treo leo/ Núi không đè nổi vai vươn tới / Lá ngụy trang reo với gió đèo”.

Bức tranh thứ hai trong bộ tứ bình được Tố Hữu thể hiện vẻ đẹp của mùa xuân Tây Bắc với thiên nhiên và con người. Tố Hữu đã có sự chuyển đổi màu sắc rất linh hoạt, nếu với mùa đông là sự hòa sắc giữa màu xanh sẫm bạt ngàn với những gam màu ấm áp của sắc đỏ hoa chuối và ánh vàng của những đốm nắng thì ở đây, khi mùa xuân đến, tất cả màu sắc ấy nhất loạt chuyển về màu trắng của hoa mơ. Cách nói “trắng rừng” gợi liên tưởng đến màu trắng tinh khôi, thanh khiết của hoa mơ bung nở, mang sức sống rất mãnh liệt. Hơi ấm của mùa xuân ấy đã mang đến dòng nhựa ứa căng trong từng thớ vỏ và giờ đây bung nở ở ngàn cánh hoa. Chỉ có mùa xuân mới có thể mang đến màu sắc ấn tượng như vậy, làm sáng bừng lên bức tranh về khu rừng Việt Bắc. Trên nền thiên nhiên ấy, nổi bật vẻ đẹp của con người. Nếu trong bức tranh mùa đông là thiên nhiên khắc nghiệt, dù rằng tác giả đã có xua đi phần nào vẻ lạnh lẽo, u tịch ấy bằng màu đỏ của hoa chuối hay màu vàng của nắng nhạt thì con người hiện ra phải là con người mạnh mẽ, can trường, vì vậy tác giả đã đặt họ ở tư thế “đèo cao” làm chủ, chế ngự thiên nhiên nhưng đến đây, thiên nhiên vô cùng thơ mộng với màu trắng hoa mơ, vì vậy con người không còn phải gồng mình lên, không là lao động vất vả cực nhọc nữa mà công việc đã nhẹ nhàng hơn “đan nón”. Phẩm chất tiếp theo của con người lao động được đặc tả qua cụm từ “chuốt từng”. Nó cho thấy sự tỉ mỉ, chăm chỉ, cần mẫn và đặc biệt là sự tài hoa của con người Việt Bắc. Phẩm chất này từng xuất hiện trong bài thơ Nói với con của Y Phương “Người đồng mình yêu lắm con ơi! Đan lờ cài nan hoa/ 
Vách nhà ken câu hát”. Trong công việc thường nhật, họ luôn thể hiện sự tài hoa khi tạo những họa tiết trên những vật dụng lao động hay cả ken cài vào ngôi nhà của mình những khúc hát yêu đời, vui say, khỏe khoắn. Đó chính là vẻ đẹp mà cả Tố Hữu hay Y Phương muốn khắc họa, những con người núi rừng tự do, giàu nhiệt huyết, yêu đời và đầy lạc quan.

Bức tranh tiếp theo trong bộ tứ bình là bức tranh mùa hạ. Cảnh thiên nhiên ở đây không chỉ có hình ảnh mà còn cả âm thanh, được cảm nhận và tái hiện vừa bằng thi giác và thính giác. Và vì vậy đã có ý kiến cho rằng, đây là bức tranh đẹp nhất trong bộ tứ bình Tây Bắc mà Tố Hữu đặc tả. Đặc biệt, dù câu thơ chỉ có sáu chữ nhưng đã gợi ra chuỗi vận động liên hoàn: tiếng ve kêu gọi mùa hè đến và rồi mua hè với sắc nắng chói chang của nó đã nhuộm vàng cả rừng phách. Nhưng phải chăng sáu chữ ấy còn là sự chuyển tiếp của các giác quan. Ve kêu – thính giác nhưng lại nhuộm vàng cả rừng phách – thị giác. Sự chuyển đổi cảm giác gây ấn tượng rất đặc biệt với người đọc. Tố Hữu còn thể hiện độ chín của ngòi bút ở từ “đổ vàng”. Nói về sự thay đổi của thời gian, các nhà thơ thường nói đến sự chuyển đổi của màu lá. Bước đi thời gian là vô hình nhưng qua cách đặc tả đó, bước đi đã trở thành hữu hình. Tố Hữu ở đây có thể nói là đã tiếp nối các tiền nhân đi trước nhưng cách diễn tả của ông lại là sự sáng tạo đầy mới mẻ. Từ “đổ’ ấy diễn tả tốc độ chuyển đổi rất nhanh và sự nhất loạt của cảnh vật. Tất cả đã khoác lên mình màu vàng rực rỡ, nổi bật. Và con người ở đây tiếp tục được khắc họa trong công việc lao động “hái măng” nhưng dường như cách gọi “cô em gái” khiến những ý thơ trở nên gần gũi, thân thương hơn. Nó cho thấy mối quan hệ giữa con người Việt Bắc và cán bộ kháng chiến, đó là sự gắn bó, yêu thương của những người ruột thịt, Họ coi nhau như anh em, như ruột thịt, như gia đình. “Cô em gái” ở đây có lẽ là người em gái nuôi quân đang hái măng để về nuôi quân, để hỗ trợ kháng chiến. Và hiểu được điều đó, ta sẽ thấy từ ‘một mình’ ẩn chứa rất nhiều ý nghĩa. Người em nuôi quân giữa rừng Tây Bắc đang lặng lẽ, dang làm công việc hái măng trong thầm lặng, không cần được ai nhớ tên, không cần một ai vinh danh nhưng họ vẫn làm công việc ấy một cách chăm chỉ, cần mẫn để ủng hộ khang chiến, và nhờ có họ mới có được cuộc cách mạng chiến thắng như ngày hôm nay. “Một mình” – một vẻ đẹp lao động bình dị mà thiêng liêng, một sự đóng góp nhiệt thành mà lặng lẽ, âm thầm của người dân Tây Bắc với kháng chiến, với cách mạng “không ai nhớ mặt đặt tên nhưng họ đã làm ra đất nước” ( Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm).

Trình tự sắp xếp bức tranh tứ bình của Tố Hữu cũng có sự kì lạ. Bởi nếu trên thực tế là Xuân – hạ – thu – đông thì ở đây Đông – xuân rồi mới đến hạ – thu. Sự phá lệ đó mang dụng ý nghệ thuật mà tác giả muốn thể hiện. Bức tranh bắt đầu bằng đông kết lại bằng thu chính là sự song hành với cuộc kháng chiến trường kì gian khổ của dân tộc ta. Đông – những tháng ngày đầu tiên kháng chiến khó khăn như ta được thấy trong thơ Tố Hữu “Áo anh rách vai/ Quần tôi có vài mảnh vá/ Miệng cười buốt giá/ Chân không giày” ( Đồng chí), những khó khăn vô vàn không thể kể hết cũng tựa như sự khắc nghiệt của mùa đông, nhưng mùa thu là mùa của trái chín, nói mùa thu cũng chính là nói đến chiến thắng toàn vẹn của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến ấy. Bên cạnh đó, đông và thu còn song hành với thời gian cuộc kháng chiến diễn ra. Thời điểm bắt đầu là lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ chủ tịch vào mùa đông 1946 và chiến thắng là khi cuộc cách mạng tháng tám thành công trên mọi miền tổ quốc và vào mùa thu tháng 10/1954, cán bộ kháng chiến đã rời chiến khu Việt Bắc để tiếp quản thủ đô Hà Nội. Nếu ba bức tranh ở trên là cảnh đẹp ban ngày thì ở đây là vẻ đẹp của ban đêm “rừng thu trăng rọi hòa bình”, nổi bật với vẻ đẹp đầy vành vạnh của vầng trăng đang tỏa sáng ánh sáng trong trẻo, thanh bình, ánh sáng của chiến thắng, của tự do. Vẻ đẹp của trăng bao hàm nhiều ý nghĩa. Trước hết đó là vẻ đẹp đặc trưng của núi rừng Việt Bắc, vẻ đẹp đã đi vào thơ của biết bao thi nhân như Hồ Chí Minh một cách rất tự nhiên “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” hay “Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền’. Ánh trăng trải ra khắp núi rừng, khiến cảnh vật mang vẻ đẹp diễm lệ đầy ấn tượng. Đồng thời, ánh trăng ở đây còn gợi ra những đêm thao thức không ngủ trong suốt 9 năm kháng chiến trường kì. Và chúng ta cũng có thể tìm lại những đêm thao thức ấy trong thơ của Bác “Trăng vào cửa sổ đòi thơ/ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau”(Tin thắng trận). Những đêm thao thức không ngủ để lo việc dân, việc quân, việc nước, những người cán bộ, những người chiến sĩ đã biết bao đêm thao thức như thế, để rồi dân tộc ta có được chiến thắng huy hoàng như ngày hôm nay. Và trong giây phút này, ánh trăng đã trở thành biểu tượng của hòa bình. Ánh trăng “rọi hòa bình”, trăng mang hạnh phúc, chiến thắng đến nơi nơi, đến mọi miền đất nước. Thiên nhiên gói trọn trong vẻ đẹp của trăng. Còn vẻ đẹp con người nơi đây vang ngân với tiếng hát trong giây phút chia tay lưu luyến, xúc động. Nếu ở trên, tác giả sử dụng xuyên suốt những đại từ như ‘mình – ta” thì ở đây lại là “ai”. “Ai” vẫn là chỉ con người Tây Bắc nhưng lại mang màu sắc của tình yêu. Lại một lần nữa, Tố Hữu đã để cuộc chia tay chính trị của mình mang sắc thái của cuộc chia tay lứa đôi tình tứ. Và nhớ nhất trong những giây phút lưu luyến ấy là “ân tình thủy chung”. Sự gắn bó, yêu thương, đùm bọc của những con người nơi núi rừng ấy vẫn luôn in đậm trong kí ức của những người kháng chiến dù sau này thời gian có phủ mờ lên tất cả.

Bức tranh tứ bình được thể hiện thành công qua ngòi bút đỉnh cao của Tố Hữu với tính dân tộc đậm nét. Đầu tiên, tác giả đã sử dụng thể thơ lục bát cùng kết cấu đối đáp “mình – ta” – những yếu tố của văn học dân gian. Bên cạnh đó, cách gọi “mình – ta” khiến câu chuyện chính trị trở nên tình tứ, vấn vương như cuộc chia ly của lứa đôi. Tố Hữu còn đưa tính dân tộc vào trong thơ với nững từ ngữ rất giản dị, dễ thuộc, dễ nhớ cùng hình ảnh đời thường dung dị nhưng vẫn giàu sức gợi và vô cùng ấn tượng. Ta còn nghe trong thơ giọng điệu ngọt ngào, thiết tha tựa như khúc hát giã bạn trong dân ca.

Qua bức tranh tứ bình đặc sắc, ta còn thấy được truyền thống về đạo lý
“Uống nước nhớ nguồn”. Nỗi nhớ và tình cảm của cán bộ kháng chiến dành cho thiên nhiên và con người Việt Bắc là biểu hiện vô cùng rõ nét về truyền thống ấy của dân tộc. Và nét đẹp này vẫn luôn được gìn giữ, phát huy trong cuộc sống hôm nay. Những thế hệ sau cần biết ơn, ghi nhớ và tri ân công lao của các thế hệ đi trước. Truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” là một nét đẹp đặc trưng của văn hóa, của đạo lý dân tộc.

Mười câu thơ trích trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu không chỉ mang vẻ đẹp về nội dung, nghệ thuật mà còn mang đến những cảm nhận về truyen thống “ uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Tình cảm và nỗi nhớ mà người kháng chiến dành cho mảnh đất và con người Việt Bắc chính là sự tri ân, biết ơn sâu sắc, là biểu hiển rõ nét nhất của đạo lý này, đó cũng là điều mà những thế hệ sau luôn phải phát huy và gìn giữ.

 

Comments

comments

About kythiquocgia

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *