Home / Tài liệu ôn thi / Tài liệu môn văn học / Cách làm bài văn nghị luận _ dạng đề số 5

Cách làm bài văn nghị luận _ dạng đề số 5

Nghị luận và so sánh về hai tác phẩm cũng là một trong số những dạng bài nghị luận khá phổ biến. với dạng bài này thì học sinh không chỉ cần có kỹ năng tổng hợp, phân tích, so sánh mà còn cần có cả những cái nhìn tổng quát về cả hai tác phẩm.


Nghệ thuật miêu tả tương phản của Nguyễn tuân và Thạch Lam trong “ Chữ người tử tù” và “Hai đứa trẻ”.
 Gợi ý đáp án làm bài: 

1. Đặc điểm của sáng tác lãng mạn và yêu cầu sử dụng nghệ thuật miêu tả tương phản.

a. Đặc điểm của sáng tác lãng mạn: – Biểu hiện cái nhìn chủ quan của nhà văn trước cuộc đời, hình tượng nhân vật ít nhiều mang phảng phất bóng dáng cái tôi của tác giả. hướng tới khám phá và thể hiện những gì độc đáo khác thường kỳ lạ.
b. Yêu cầu sử dụng nghệ thuật miêu tả tương phản: – Hiệu quả của miêu tả tương phản: làm nổi bật đặc điểm của từng đối tượng, gây ấn tượng mạnh mẽ, phù hợp với yêu cầu của sáng tác lãng mạn.
Kỹ năng phân tích, tổng hợp là không thể thiếu khi làm bài

2. Phân tích nghệ thuật miêu tả tương phản trong hai tác phẩm:

Điểm chung:  a. Đều phát hiện sự đối lập giữa tính cách và hoàn cảnh:
– “Chữ người tử tù”:  + Hoàn cảnh: Môi trường tù ngục đen tối xấu xa, cảnh ngộ éo le với những áp lực nặng nề phải đối mặt dể khiến con người tha hoá.
+ Tính cách: có nhân cách, thiên lương trong sạch, khác biệt với thế giới đen tối, tội lỗi. Có dũng khí: ở huấn Cáo là dũng khí của bậc anh hùng, ở quản Ngục là dũng khí của bậc hiền nhân. Chính nhân cách lương tâm và dũng khí giúp họ chiến thắng hoàn cảnh.
Từ cách miêu tả có thể thấy Nguyễn Tuân luôn nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ (phong cách).
– “Hai đứa trẻ”: + Hoàn cảnh: nghèo khó, tù túng, đơn điệu, buồn tẻ – một kiểu hoàn cảnh có thể tạo ra sự chết mòn về tinh thần.
+ Tính cách: sự hồn nhiên ngây thơ trong cách nhìn và rung động; sống với một tấm lòng nhân hậu và thế giới tâm hồn trong sáng, phong phú.
Từ cách miêu tả, có thể thấy tấm lòng yêu thương, cái nhìn trìu mến mà nhà văn đàn cho những tâm hồn thơ trẻ.
b. Đều miêu tả sự đối lập, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối mà cả ánh sáng và bóng tối đều hiện diện với nghĩa thực và nghĩa tinh thần:
– “Chữ người tử tù”:  + Bóng tối: theo nghĩa thực là của đêm khuya, của buồng giam tử tù- nơi ánh sáng không thể lọt qua được; theo nghĩa tinh thần lại chính là cảnh ngộ éo le mà con người phải đối mặt ( Huấn Cao – án tử tù, quản ngục – môi trường sống không phù hợp với tính cách con người ông). Là biểu tượng cho cái xấu xa.
+ Ánh sáng: theo nghĩa thực là bó đuốc tẩm dầu khói toả như đám cháy nhà – thứ ánh sáng khá mờ nhạt; theo nghĩa tinh thần là ánh sáng toả ra từ cái đẹp của nghệ thuật ( chữ Huấn Cao) và tư thế tâm hồn con người. Chính thứ ánh sáng này soi sáng con đườngđể những kẻ tri âm đến với nhau. Đó là sự đối lập giữa cái đẹp và cái xấu xa.
– “Hai đứa trẻ”:  + Bóng tối: theo nghĩa thực là của phố huyện trong thời khắc chiều muộn và đêm khuya; theo nghĩa tinh thần là nỗi buồn đang lan toả, thấm thía và trĩu nặng dần trong tâm hồn nhân vật.
+ Ánh sáng: theo nghĩa thực là của thiên nhiên ( ráng chiều, vì sao, đom đóm) và cuộc sống con người ( các loại đèn, bếp lửa); theo nghĩa tinh thần là hồi quang ký ứcvề một thiên đường đã mất và nìêm hy vọng dù le lói, mong manh. Đó là sự đối lập tương phản giữa cuộc đời thường nhật và khát vọng trong tâm hồn con người.
Điểm riêng: cách xử lý mối quan hệ cụ thể của tương quan ánh sáng-  bóng tối, tính cách- hoàn cảnh.
1. Ánh sáng và bóng tối: – “Chữ người tử tù”: sự chiến thắng tuyệt đối của ánh sáng và bóng tối, của cái đẹp và cái xấu xa.
– “Hai đứa trẻ”: ở cảnh thực ánh sáng có nguy cơ bị bóng tối nuốt chửng, đè bẹp để rồi thay thế hoàn toàn. Ở đời sống tinh thần, ánh hồi quang ký ức có rực rỡ nhưng cũng nhanh chóng vụt tắt, hy vọng có tồn tại song rất mong manh.
2. Tính cách và hoàn cảnh:  – “Chữ người tử tù”: sự chiến thắng tuyệt đối của tính cách với hoàn cảnh.
+ Quản ngục dù sống trong hoàn cảnh đen tối vẫn giữ niềm đam mê cái đẹp và một thiên lương trong sáng. + Huấn Cao dù phải đối diện với án tử hình, với cả một hệ thống những hiện thân của thế lực đen tối vẫn hiên ngang bất khuất, vẫn bộc lộ tài năng và tấm lòng đáng quý.
– “Hai đứa trẻ: hoàn cảnh có sự tác động ở mức độ nhất định.
+ Cuộc sống nghèo khó, buồn tẻ và không khí buồn lặng của cảnh ngày tàn, chợ tàn thấm vào tâm hồn Liên nỗi buồn man mác.
+ Những khó khăn cuộc sống khiến Liên “già trước tuổi”- đảm đang tần tảo khi vẫn còn ở tuổi trẻ con.

3. Kết luận: –

Cả hai tác phẩm đều mang màu sắc lãng mạn, thể hiện cái nhìn và những ấn tượng riêng – chủ quan của nhà văn về cuộc sống và con người.
– Xét về mức độ và những biểu hiện cụ thể, có thể thấy, Chữ người tử tù là mẫu mực của kiểu sáng tác lãng mạn còn Hai đứa trẻ dường như đi chênh vênh trên ranh giới giữa hiện thực và lãng mạn nên tuy có gieo vào lòng người đọc những cảm xúc bâng khuâng, những tình cảm man mác và trí tưởng tượng bay bổng, song đồng thời nó cũng đem đến những cảm nhận thấm thía về đời sống hiện thực của con người.

Comments

comments

About kythiquocgia

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *